Lan Man Đc Mi Trà

Tuyn Thơ - Thi Pháp Ca Mai Quang Và Song Nguyên

Minh Đc Triu Tâm nh Đ T

Thch Cm

B́a Tập Thơ - Thư Pháp Mời Trà

 do Minh Đức Triều Tâm Ảnh vẽ.

 

Đọc Mời Trà, nghĩ lan man chuyện nọ xọ chuyện kia. “Bàn trà” của họ không chỉ có hai người, mà đến ba ...trà khách. Như người ta vẫn nói trà tam, rượu tứ...Nhiều hơn nữa e dễ sinh chuyện không c̣n là trà đàm nữa!

Trà khách vẽ b́a và đề từ: nhà thơ Minh Đức Triều Tâm Ảnh, một cây đa, cây đề thơ thiền và viết chữ Việt bằng bút lông Tàu.

Nhặt chút hương tĩnh lặng

Hăm chung trà vô vi!

Cùng cảo thơm thi bút

Mời bằng hữu cố tri!

Đó là một bài tứ tuyệt chữ nghĩa kinh điển, mỗi vận mỗi chữ có chỗ đứng đan kết đẹp như một ráng chiều thu nào đó rất quen mắt của một không gian xa xưa. Thiền gia ngữ, mỹ từ đạo. Vào google gơ mấy chữ Minh Đức Triều Tâm Ảnh. Biết bao nhiêu giấy mực mới in ra cho đủ những bài viết về người tài danh này. Chuyện không thấy google thông tin mà chỉ nghe “giang hồ” truyền tụng rằng, hơn năm mươi năm trước có chàng tuổi trẻ hào kiệt tài hoa rất mực tên Nguyễn Duy Kha, trên đường công tác cho phong trào chi đó, khi xe khách đang nghỉ chân bên đèo, chàng thoáng nghe tiếng chuông mơ xa đưa trong lưng núi, ṭ ṃ lần t́m th́ gặp một cảnh chùa nhỏ ven góc núi thơ mộng, chàng bỗng động ư, thoát ḷng trần, khởi tâm đạo... xin ở lại tu luôn, bỏ ngang chuyến hành tŕnh.

 

Chuyện không rơ hư thực nhưng hay quá đỗi. Sau chàng thành danh là thiền sư thi sĩ: Thích Giới Đức Minh Đức Triều Tâm Ảnh... Pháp danh, thế danh, bút hiệu cộng lại dài quá, đọc lên nghe có vẻ…hiệp khách hành. Mà cũng lạ, đọc sách vở từ Tàu qua Nhật, thiền sư nào ngoài pháp danh cũng có đến vài ba danh hiệu, biệt hiệu. Chưa nói đến chuyện ta bà mà ca tụng th́ thiếu chi chữ nghĩa. Thật sự ở Việt Nam, đây là một tu sĩ nổi danh quá cỡ trần ai. Bà con Phật tử, giới văn nghệ sĩ ở Huế ai mà không biết sư Giới Đức. Ra đường ngoắc xe ôm, chỉ cần nói lên chùa Huyền Không Sơn Thượng th́ non 30 phút sau là có thể gặp sư. Kêu là sư Giới Đức, ôn cười; gọi là thầy Minh Đức, ôn cũng cười. Nhưng đa số phật tử ở Huế hay gọi một cách trọng vọng là ôn Huyền Không - tên của ngôi chùa sư đang chủ tŕ. Đây là cách gọi tôn kính mà hầu hết phật tử ở Huế hay dùng để chỉ cho các cao tăng chủ tŕ những ngôi chùa nổi tiếng. Nghe tôn kính mà cũng rất gần gũi. Vừa để tránh gọi thẳng pháp danh vừa để nhắc nhớ đến phẩm bậc, công đức xây dựng phát triển chùa. Thí dụ như khi gọi là ôn Châu Lâm, ôn Từ Hiếu... là giới phật tử biết ngay đó là ḥa thượng nào, thượng tọa nào.

Chùa Huyền Không nằm lưng chừng triền núi Triều Sơn Phương, phía tây thành phố Huế. Cảnh chùa là một “giả sơn vĩ đại”. Lạ hè, trong núi mà lại có thêm giả sơn - non bộ. Xin kêu là non bộ - làm bộ như là núi thiệt. V́ từ một triền núi hoang vu, toàn bộ cảnh quan hiện tại của chùa đều do công sức chính là của sư Giới Đức cùng đệ tử “chế tác, sắp đặt” từng ḥn đá, hồ nước, thủy môn (mấy cái thủy môn này giống made in japan), từ khe nước đến cầu gỗ (vài cái giống cảnh bên Tàu, có cái lại làm ḿnh nhớ đến thung lũng t́nh yêu Đà Lạt). Thêm vườn hoa lan có khá nhiều giống lạ mắt, nổi tiếng nhất Huế và dĩ nhiên: Chùa có cả một quần thể kiến trúc đúng nghĩa của một ngôi chùa từ chánh điện, Phương Thảo địa, am Mây Tía, am Trăng Ngủ, đến Chúng Ḥa đường, Tĩnh Trai đường, Tuệ Học đường

Dựng trượng núi này năm tám chín

Lập am, tạo cảnh chín mươi hai

Hai ngàn lẻ bảy thành lâm thắng

Để lại cho vui một dấu hài!

 (TTA - Lửa Lạnh Non Thiêng 1990)

Thấy chưa! Chuyện tạo cảnh non bộ này làm ra không phải để đứng xa ngắm chơi, mà để lại cho vui một dấu hài. Tại sao không là dấu dép mà phải là dấu hài? Dép th́ làm sao mà vần với hai được! Hài c̣n nghe thơ hơn là dép. Nhưng để lại cho vui một chiếc dép th́ mới thiệt là vui. Ta c̣n lại chiếc dép kia móc lên cành tre, gánh đi lung tung làm công án cho mấy anh t́m cách tu thiền bật ngửa chơi. Tại sao gậy của sư Giới Đức cũng chỉ c̣n một chiếc dép giống  h́nh tổ Đạt Ma? Dễ hiểu thôi. Ban đầu nguyên cặp chớ nhưng qua thời gian sư đi nhiều quá, ṃn đến độ mất tiêu một chiếc. Nói rứa cũng cho vui, v́ sư hay rời chùa đi lang thang khắp nơi, trong và ngoài nước, theo những lần mời thỉnh giảng hay hoằng giáo. Đi bộ, đi xe hơi, đi xe lửa, đi máy bay và đi đ̣:

 

Đ̣ ơi! Đ̣ ơi ! Đ̣ ơi!

Gọi chi th́ gọi

Tiếng lời gió bay

Bờ kia chạy lại bờ này!

Sóng xa chẳng động

Lay hoay mặc t́nh.

(Lửa Lạnh NonThiêng 1992)

 

Chà! Nếu đường lên Huyền Không Sơn Thượng cách một con sông th́ thế nào bài thơ này cũng được viết lên một tấm bảng to nhỏ chi đó treo chơi ở bến đ̣. Coi như qua sông rồi, lên Huyền Không mà coi.  Từ lưng núi đi lên đă thấy cách ngôn, thi kệ, vè yêu cầu du khách giữ vệ sinh chung, bảng hướng dẫn, bảng tên “chức năng” pḥng ốc. Viết trên gỗ, đá cục, b́a cứng, tấm nhựa... có đóng khung, làm mái che mỹ thuật hay không…đều được sắp đặt một cách nghệ thuật, đúng nơi đúng chỗ... lấp ló sau bụi trúc, khóm hoa hoặc treo, móc, dựng, dán... đầu cầu, thủy môn... chỗ nào cũng thấy toàn chữ là chữ viết tay bằng bút lông với mực xạ hoặc sơn lon.

Nghe nói tất cả những bức chữ Việt trên Huyền Không đều do một tay sư Giới Đức thủ bút mà chen vô đâu đó cũng có vài bức chữ do mấy đệ tử mày ṃ bắt chước theo thầy. Xưa kia cũng như bây giờ, ai học viết bút lông chữ Tàu, cách luyện viết chữ cho đẹp  được kêu là  thư pháp. Bây giờ dùng bút lông Tàu viết chữ Việt cũng kêu là viết thư pháp. Từ một h́nh thức nghệ thuật phát sinh theo nhu cầu quần chúng đă h́nh thành một cụm từ Việt gốc Hán.

Hư vô

Đi suốt hai bờ giấy

Ở giữa con sông chảy mịt mù

Ta bèn đáo bỉ trên ḍng mực

Vừa đỡ lao tâm

Đỡ lụy đ̣ !

( Lửa Lạnh Non Thiêng 1997)

Rơ ràng là dụng chuyện viết chữ làm Đạo chớ chi nữa. Chữ của sư trăm bức như một. Nét giản dị, dễ đọc, chơn chất như chữ viết học tṛ lớp năm (chữ lớp năm của năm sáu chục năm trước chớ không phải cải cách, cải biên như bây giờ).  Nhưng chữ của sư chỉ dùng toàn chữ thường. Mẫu tự đầu chữ chỉ thấy viết nét lớn ra chứ không viết hoa một cách cầu kỳ theo kiểu romance... Nét chữ không sử dụng nhiều thủ thuật hất, phẩy, móc... của bút lông. Đơn giản muốn nhỏ nét th́ nhớm tay cho đầu bút túm gom lại, muốn nét lớn th́ ấn mạnh tay cho đầu bút ṭe ra. Nh́n rơ ràng chữ Việt ra chữ Việt chớ không phải cứ dùng bút lông Tàu là phải viết cho giống chữ... Nho. Cũng không hề thấy một bức chữ nào của sư có những nét cố làm cho dị dạng ra cái điều chữ của thiền sư như nhiều bức chữ của quư vị thư pháp viên, thư pháp gia Sài G̣n. Đứng coi sư viết chữ thấy dáng thoải mái, bộ thảnh thơi, thân không căng đè trên giấy, tay không vung vẫy cái cách ta đây điêu luyện, chữ tuôn ra từ đầu bút hiện lên mặt giấy nhẹ nhàng, không g̣ gẫm. Chấm mực mấy lần sắc đậm lạt tiếp câu không đổi khác, nét đều như nhiên do điều tiết được khí lực. Bức chữ nh́n xa gần ǵ cũng thấy ư đơn sơ, tâm lành tánh thiện, hiện thành thần chữ. Lâu lắm rồi, có lần ghé xem triển lăm thư pháp ở thiền viện Vạn Hạnh, Sài G̣n. Nh́n những bức chữ của sư treo chung với những bức chữ của nhiều tác giả khác lại lan man nhớ một dịp cuối năm nào lên Đà Lạt coi festival hoa, đang bâng khuâng giữa một rừng hoa chợt thấy một đám hoa bồ công anh, bông nho nhỏ như những viên bi lông trắng nơn, từ  những thảm hoa rực rỡ muôn màu, bốc lên bay tan tác, cao dần rồi mất hút trong thinh không. Bức chữ của Sư thanh thoát tinh khôi như hoa bồ công anh nhẹ hẫng, đến mức như muốn bốc bay lên, ḥa vào sương khói.

Gọi là thần chữ quả không cường điệu chút nào.

Mà làm sao bức chữ đạt tới cảnh giới của thần chữ nếu không có hồn thơ tiêu diêu song hành? Hai nhập một. Một ḥa không. Không mà vẫn lung linh có đó.

Thơ Triều Tâm Ảnh không chỉ có bài ngắn. Trong tập Lửa Lạnh Non Thiêng, bài Hư Vọng Hải Triều Âm có đến 200 câu thất ngôn; bài Mặt Trời Trong Tôi gồm 14 khổ ngũ ngôn tứ tuyệt. Đây mới là những tác phẩm “tâm đắc”  đối với... quư vị nghệ sĩ ngâm thơ. Thơ dài ngâm mới “đă”. Ngũ ngôn tứ tuyệt th́ “chán mớ đời”, mới lên giọng, chưa kịp khoe “ngón nghề” bài thơ đă hết. Thi ngâm vừa hứng khởi đang dào dạt bỗng bị cắt ngang. Dây mơ rễ má của chuyện ngâm thơ Triều Tâm Ảnh là từ công ty chuyên sản xuất mặt hàng tranh thêu tay nghệ thuật XQ lừng danh VN mà ra. “Nghe đồn”  nữ chủ nhân của công ty này là cháu gọi nhà thơ Triều Tâm Ảnh bằng cậu. Từ mươi lăm năm trước, bà đă xuất kinh phí để thực hiện hầu hết tác phẩm của ông cậu thi sĩ thiền sư thành những CD ngâm thơ với những giọng ngâm của các nghệ sĩ nổi tiếng hàng đầu VN. Để rồi khách ta hay tây, khi vào bất cứ một cửa hàng tranh thêu nghệ thuật XQ nào đó, cho dù ở Hà Nội, Cần Thơ, Huế, Sài G̣n... đều được những thiếu nữ xinh đẹp hướng dẫn tham quan cửa hàng trong một không gian mờ tỏ những góc sáng tối thiết kế đầy nghệ thuật, trong mùi hương trầm thoang thoảng... Khách vừa chiêm ngắm những tác phẩm tranh thêu khách vừa được nghe  những vần thơ Triều Tâm Ảnh thấm đẫm thiền vị, phát ra nhè nhẹ theo những làn điệu ngâm thơ, ḥa quyện với tiếng đàn tranh, sáo trúc d́u dặt... Ai có dịp về Huế một lần nào đó, nếu vô t́nh đi ngang qua cửa hàng tranh thêu XQ trên đường Lê Lợi, sẽ nghe tiếng ngâm thơ thoang thoảng phát ra từ cửa hàng, nếu ṭ ṃ, hăy cứ hỏi thăm những người đạp xích lô, lái xe ôm... thường chờ khách trước cửa là tiếng ngâm thơ ở đâu đó sẽ được nghe họ sẽ trả lời: Trong cửa hàng tranh thêu đây ń, tụi tui đứng ngoài vỉa hè đây, ngày mô mà không nghe trong nớ ngâm thơ của ôn Huyền Không.

Tất cả những CD ngâm thơ Triều Tâm Ảnh đều do nhà thơ thư pháp gia Song Nguyên Nguyễn Đức Tín một tay thực hiện. Ông đứng ra mời nghệ sĩ ngâm thơ xịn nhất nước, thuê pḥng thu âm và cũng là một nhạc công sử dụng sáo trúc trong ban nhạc đệm của những CD thơ này... Làm cho “vui”, Song Nguyên đă từng làm nhiều chuyện vui kiểu như vậy trong đời ḿnh. Như với tuyển thơ Mời Trà của Mai Quang này đây, ông đă cất công viết lại 90 bài thơ Mai Quang bằng thư pháp. Mỗi trang thơ kèm một bức chữ mà thoạt nh́n cứ như... gà bới. “Vọc chữ” mà! Chẳng phải tác giả đă từng đề thơ xác nhận chữ viết của ḿnh là “vọc chơi” sao: 

Lấy vợ hoàng gia chảnh quá trời

Thi-văn-tửu-họa dễ dàng thôi

Vui ơi huyết thống lưa* đôi chút

Đợi phút giao thừa “vọc chữ” chơi.

 (Xuân Cảm-Song Nguyên)

     

          Vọc – đa số người Huế hay dùng chữ này. Rất khó giải thích ngắn gọn cho chính xác. Vắng chủ nhà, gà vọc niêu tôm. Tục ngữ dân gian c̣n truyền khẩu rơ ràng. Ở thành phố, mấy ai có dịp về nhà vườn, vào một nhà vắng chủ, thấy gà nuôi thả ngoài vườn đi vô bếp, vọc niêu* (*cái nồi nhỏ làm bằng đất nung) tôm chưa? Leo vào cả trong niêu mà bới, mổ văng tung tóe. Tôm chẳng c̣n ra tôm, niêu chẳng c̣n ra niêu. Trẻ con ra vườn bới đất sét nhồi nắn thành con chim con gà... tay chân lem luốc, trây trét đất lên tường vách hay bị người lớn la mắng “hết chuyện chơi rồi sao mà đi vọc đất”. Song Nguyên vọc chữ chớ đâu viết chữ. Mở trang 22-23 trong Mời Trà ngắm nghía thử một bức chữ coi “vọc” ra sao. Không hề có môt nét ǵ để gọi là căn bản mỹ thuật của phương pháp sử dụng bút lông tàu ở đây cả. Coi vậy chứ bức thư pháp xếp đặt cân đối thành một bức tranh chữ bắt mắt một cách tài t́nh. Trên bức chữ tên tác giả bài thơ luôn được viết góc phải bên dưới, góc trái là tên người thủ bút. Sau cùng phải đóng lên bức chữ vài ba con dấu son âm dương chữ triện ngang, chữ triện dọc, không được thiếu kiểu chi. Kiểu triện vuông đóng bên cạnh tên, kiểu chữ nhật đóng giữa bức chữ, kiểu giống như hột đậu phụng đóng góc trên bên phải, kiểu h́nh thoi đóng góc trên bên trái... Nh́n vô rơ ràng uy tín là một tác phẩm mỹ thuật. Treo lên rành rành là một bức thư pháp.

      *Lưa: C̣n lại

 

 


Trang 23-Mời Trà- Mạn Hứng Ở Sơn Pḥng.

(Hoa cùng. Mưa tạnh. Non yên ắng

Chim kêu một tiếng đọng xuân tàn)

 

 

 

 

Song Nguyên chơi như vậy mới là một “tay chơi” đúng nghĩa. Chỉ riêng chuyện họ Nguyễn Đức ở đất Thừa Thiên Huế thôi, đă nổi tiếng là ḍng dơi có rất nhiều người khoa bảng, chức quyền từ thời Minh Mạng, Tự Đức cho đến chế độ Việt Nam Cọng Ḥa kia ḱa. Nhưng tiếng Việt mà nói là “tay chơi” th́ dễ ngộ nhận nhiều chuyện “nhạy cảm” lắm lắm nhưng dân Anh Mỹ sử dụng “player” th́ có nghĩa bóng bẩy là “tŕnh độ” à nghen! Không tŕnh độ sao được! Song Nguyên là cựu thiếu tá công binh quân lực VNCH, từng tu nghiệp tại Mỹ từ thế kỷ 20, có bằng kỹ sư U.S.A, từng phụ trách xây dựng cầu cống từ Phù Cũ, ranh giới 2 tỉnh Quảng Ngăi-B́nh Định cho đến tỉnh B́nh Thuận chớ chẳng chơi. Để có một chuyện đến thế kỷ 21 vẫn c̣n “truyền tụng” rằng trong thời gian ở Mỹ, nỗi canh cánh nhớ VN cứ chiều xuống lại nổi lên bồng bềnh trong ḷng chàng lữ khách đi... tu nghiệp những cảm giác tê tái khiến chàng cứ thích lang thang thả bộ qua những con đường rợp bóng cây. Và trong một chiều như thế, khi đi ngang qua một ngôi nhà xinh xắn, chàng chợt nghe văng vẳng giọng hát của một nữ ca sĩ VN tŕnh bày một nhạc phẩm Việt mà theo lời chàng kể là ở VN được sắp vào hạng “sến ơi là sến”, phát ra từ cửa sổ ngôi nhà nọ làm tim chàng tự nhiên buốt nhói một cảm giác thương nhớ quê nhà lạ lùng. Vậy là chàng dừng chân, thẩn thờ đứng tựa cổng ngôi nhà đó thả hồn theo bài hát. Ai ngờ vị chủ nhà người Mỹ từ trong nh́n ra thấy một tên đi bộ lang thang đang lấp ló trước cửa nhà ḿnh bèn xông ra, túm cổ áo la hét om ṣm, gọi vợ kêu cảnh sát. Người vợ chạy ra theo, y thị ś ś là một phụ nữ VN, thấy chồng ḿnh đang bóp cổ một anh chàng da vàng nhỏ con, nh́n sao giống đồng hương quá, bèn ngăn chặn kịp thời, hỏi thăm sự t́nh. Sau khi biết rơ nguồn cơn đồng thời danh tính, đôi vợ chồng Việt Mỹ bèn xoắn xít mời Song Nguyên vào nhà chơi để kể lể tâm t́nh về VN. Rơ ràng là anh chồng Mỹ đă có thời gian làm việc tại VN vừa đủ để t́m hiểu loại nhạc “sến ơi là sến” và lấy một phụ nữ VN mê nhạc sến làm vợ.

Chuyện này “truyền tụng” qua đến thế kỷ 21 là khi có nhiều người Mỹ gốc Việt (Nay “tục gọi” là Việt kiều. Mà đúng ra phải gọi họ là Mỹ kiều. Như trước 1975 ở Sài G̣n, người nước ngoài đến VN du lịch hay cư trú vẫn được gọi là kiều-khách. Thí dụ như là Hoa Kiều, Nhật Kiều, Mỹ kiều... đương nhiên Việt kiều là từ chỉ cho người Việt đến và ở tại ở đất Mỹ chớ mắc chi người Việt về quê mẹ mà lại gọi họ là khách - Việt kiều!) về Sài G̣n, t́m đến thư pháp gia Song Nguyên xin học viết thư pháp kiểu vọc chữ. Hầu hết, họ đều hỏi một câu rằng tại sao ông không đi định cư tại Mỹ. Trả lời: Đă từng ở Mỹ rồi, chừ mới nói chuyện đi đă thấy nhớ VN thắt ngực, làm răng mà đi nữa!  Và một trong những người đó là phu nhân của nhà thơ Mai Quang, bà Trúc Mai, đă làm thành một mối duyên văn nghệ giữa Song Nguyên và nhà hoạt động văn hóa Mai Quang ở Mỹ, trang chủ www.songdinh.com. Rất nhiều người Việt - bạn đọc quốc tế đă đọc thơ, thưởng ngoạn thư pháp của Song Nguyên trên songdinh.com  nhưng có thể họ không biết Song Nguyên chưa hề một lần off line - gặp mặt Mai Quang sờ sờ trước mặt mà chỉ toàn online trên net – mạng. Ngang đây, lan man chuyện khác rằng đă có và sẽ c̣n nhiều nữa những thuật ngữ chuyên môn Anh Mỹ của máy vi tính, của hệ thống internet... được Việt hóa, đây cũng là quy luật tất yếu thôi, sử dụng rộng răi qua h́nh thức đọc, viết nói chung một cách Việt Mỹ “đề huề.” Ai mà không sử dụng máy vi tính th́ liệu có hiểu ǵ không nếu đọc được đâu đó một kiểu văn chương tiếng Việt thí dụ như thế này: Chiều qua, anh on lai - online lang thang. Cũng lại phây búc - facebook thôi chứ biết t́m em ở đâu bây giờ? Ḷng ao ước đọc được vài lời giải thích của em v́ lần óp lai - offline hôm kia mà em không đến. Có lẽ các nhà làm văn hóa người Việt đang ở trong và ngoài nước VN có tŕnh độ ngoại ngữ cao, hiểu biết sâu sắc tiếng Việt trong lănh vực ngôn ngữ học, chuyên sử dụng vi tính nên có tiếng nói về vấn đề này. C̣n ḿnh th́ đi rong chơi theo bài Khúc Hát Đường Mây (Mời Trà tr.66).

Nghêu ngao

hát chơi một khúc

Khúc hát vô thanh:

Đường mây hề! Ta bước

Trăng sao hề! Ta cầm

Đàn ngọc hề! Ta gẫy

Cung bậc hề! Vô âm

Quê hương hề! Trước mặt

Chốn ấy hề!

Vô thanh.(Phụ chú 1)

Khúc hát - đường mây- trăng sao - đàn ngọc – ta bước – quê hương - ta cầm – ta gẫy – vô âm – vô thanh... H́nh tượng văn học hoành tráng cao cao mây đỉnh núi, mang mang nước trùng dương. Hạo khí tiêu dao ngút trời Tâm t́nh tha hương nhói buốt khôn cùng. Nhạc ngữ khoan nhặt cung bậc, bằng trắc cân đối, câu trên câu dưới hoàn chỉnh. Nghẹn ngang mấy chữ hề, hết sướng. Chợt nhớ cái ông Khuất Nguyên nhà thơ kiêm nhà quan bên Tàu (340-278 TCN) chế tác một thể thơ gọi là Sở từ. Thể tự do, câu chữ dài ngắn không đều nhưng nhạc tính rất uyển chuyển, dọc lên nghe như hát, đặc biệt là có những câu hai vế mà cuối vế trước nối với vế sau bằng  một chữ hề* ( *đọc theo âm Hán Việt nhưng khi đọc nguyên âm Bạch Thoại là âm a hay ha). Chữ này, theo vài học giả cho rằng khó có thể giải thích theo nghĩa đen mà chỉ xem tạm có nghĩa như là thế à, vậy a hay vậy ư. Thêm nữa trong văn thơ cổ Trung Quốc nói chung, không sử dụng dấu chấm than hay dấu chấm hỏi đi sau chữ hề này chẳng hạn, cho nên rất khó xác định đây là từ tán thán, cảm thán hay nghi vấn. Cho nên, không nên dịch từ này. Mặt khác, xác định rằng trong thể Sở từ th́ âm tiết này được dùng như một âm tự thán, không có nghĩa, dùng làm liên từ, nối tiếp giữa câu trước, thể hiện thái độ đón nhận sự kiện xẩy ra trước một cách an nhiên, tự tại (Đạo) để câu sau thể hiện hành động hay tư tưởng, t́nh cảm... cũng bằng một cách tự nhiên tự tánh (Đạo). Khi đọc bài thơ lên, những âm a này xuất hiện, thường được diễn tả bằng cách đọc bật mạnh lên như thốt ra, tạo ấn tượng kịch tính của một thái độ tiết khí, phong cách vừa cao đạo và cũng vừa rất ư là... Lương Sơn Bạc. Nhiều tác giả thơ VN đă sử dụng – viết chữ hề theo nguyên âm Hán Việt trong tác phẩm viết bằng chữ Việt của ḿnh, mà không dùng – chuyển nguyên ngữ âm a. Ngoài ấn tượng tạo khẩu khí thơ Tàu, việc dùng chữ hề làm cho không ít người đọc hiểu như là sá ǵ, đáng ǵ, hề ǵ...  Về mặt diễn đọc hay diễn ngâm tiếng Việt th́ chữ hề này gây phản tác dụng đáng kể. Đọc bằng âm tiết a, nghe khoái hoạt hơn. Xin trích đoạn cuối bài Ngư Phủ của Khuất Nguyên, gồm âm Hán Việt và bản dịch tiếng Việt của học giả Đào Duy Anh.

Ngư phủ hoàn nhĩ nhi tiếu, cổ duệ nhi khứ. Năi ca viết: “Thương Lang chi thủy thanh hề, khả dị trạc ngă anh; Thương Lang chi thủy trọc hề, khả dĩ trạc ngă túc”. Toại khứ, bất phục dữ ngôn.

Ông chài tủm tỉm cười, chèo thuyền mà đi, hát vang sông: “Nước Thương Lang trong a, th́ ta giặt khăn đầu; nước Thương Lang đục a, th́ ta rửa chân vào”. Chèo thuyền đi thẳng, không nói thêm ǵ.

 

 Tiếp tục nhắc lại chuyện bà Trúc Mai  học thư pháp chữ Việt. Chưa được xem chữ Trúc Mai cho nên không dám “tào lao chi thiên” nhưng nghe Song Nguyên kể là trong thời gian lui tới nhà ông thầy dạy viết chữ, bà Trúc Mai làm quen và học hỏi từ bà quản gia của gia đ́nh là chị Mười cách nấu nhiều món ăn Huế rất ngon. Sau khi học xong, hồi Mỹ quốc, thư đi, tin lại khoe với ông thầy là về Mỹ nấu ăn được phu quân khen không tiếc lời mà không đề cập ǵ đến việc sẽ viết  thư pháp thơ của Mai Quang. Chẳng biết có phải là cố ư trồng hoa, hoa chẳng nở; vô tâm tiếp liễu, liễu xanh om.

Khi mới  nhận được tặng phẩm Mời Trà, lật qua vài trang thấy lác đác Haiku. Lan man nhớ lần đầu tiên biết ở Sài G̣n có một câu lạc bộ thơ – không phải của nhà nước - có tên là câu lạc bộ thơ Haiku Việt Nam, bèn bật cười (sau có bụm miệng lại, tự xin lỗi) mà tự hỏi: Nếu dùng tiếng Việt viết cho đủ mười bảy âm tiết để thành một bài haiku tiếng Nhật th́ sẽ có một bài thơ dài với rất nhiều h́nh tượng, chủ từ, động từ... chứ không đơn giản chỉ rất ít như haiku made in japan. Ai cũng biết tiếng Việt đơn âm, nhiều lắm là một từ có hai âm tiết như chữ cám ơn. Trong khi tiếng Nhật một từ có đến ba bốn âm tiết, điều này làm cho khi đọc chỉ một hai từ là nghe trầm bổng lên xuống đến bảy tám âm tiết. Thứ nhất, “cái  hay độc địa” của một bài haiku ở chỗ là khi đọc lên phải nghe ra đúng 17 âm tiết, được viết thành ba câu với luật 5-7-5 âm tiết cho mỗi câu. Phải có vốn liếng tiếng Nhật phong phú cộng thêm tài hoa mới t́m ra được những từ có tổng số 17 âm tiết để khi đọc lên là nghe trầm bổng du dương. Thứ hai, haiku thường chỉ diễn tả sự kiện đang xảy ra, sự kiện này thường rất cô đọng, đơn giản và có thể liên kết hai ư nghĩ hay sự kiện khác nhau nữa đi nối tiếp theo sau. Người viết haiku dường như chỉ muốn chia sẻ sự kiện họ vừa quan sát được chứ không bày tỏ ǵ thêm, chính người đọc sẽ cảm nghiệm được t́nh cảm, trạng thái của người viết. Bài haiku Con Ếch nổi tiếng của Matsuo Basho kư âm bằng romaji.

Fu-ru-i-ke-ya (5 âm tiết)

Ka-wa-zu-to-bi-ko-mu (7 âm tiết)

mi-zu-no-o-to (5 âm tiết)

Ao xưa

Con ếch nhảy vào

Tiếng nước xao

Nếu  haiku Việt Nam viết tự do th́ chỉ có thể làm  theo được điều thứ hai… Bài Thanh Âm (Mời Trà tr.38) là một haiku ½ rất đẹp.

Hiroshima Nagashaki

Thanh âm đẫm màu tuyết đào

Phú sĩ

Vài thành viên CLB Haiku Việt Nam ở Sài G̣n thường dùng hai câu lục bát cắt chữ, xuống ḍng rất găy gọn để thể hiện tinh thần thứ hai của haiku, dĩ nhiên khi đọc lên nghe ra là nhạc ngữ lục bát. Bài Níu Xuống (Mời Trà tr. 42) có phải tác giả Mai Quang muốn thể hiện như vậy?

Sáng bừng

Nụ cúc nở ra

Cánh cong

níu

Khoảng trời xa

xuống

gần.

Đọc ba bài Con Chữ từ I đến III (Phụ chú 2), thấy viết thơ khen thư pháp đến vậy th́ c̣n chữ đâu nữa cho thiên hạ sử dụng. Riêng khi đọc bài Con Chữ IV (Mời Trà tr. 138).

Tay đời thơ thới

Điểm xuống Phù - Vân

Con chữ Tùy - Ư

mặc - khí thơm Xuân.

Cho rằng nếu không có một tập thơ Mai Quang, thư pháp Trúc Mai sẽ được in ra th́ bài thơ này không thật.

Thạch Cầm

3/2013

 

Phụ Chú 1:

Nguyên tác bài: Khúc Hát Con Đường Mây Trắng*

                                 Mai Quang.

Dẫu xem ta như người xa kẻ lạ

Ta vẫn coi người rất đỗi thân thương

Đường Mây Trắng thong dong bước tới

Nghe trăng sao nhún nhẩy Nghê thường

Ta cất tiếng gọi người:

Chỉ dư âm vọng lại lung linh

Cười rũ rượi thương ḿnh khờ khạo

Bỡi Đường Mây duy kẻ độc hành

Nghêu ngao hát chơi một khúc,

Khúc hát Vô Thanh:

“Đường Mây hề, ta bước

Trăng sao hề, ta cầm

Đàn ngọc hề, ta gẫy

Cung bậc hề, vô âm

Quê hương hề, trước mặt

Chốn ấy hề, Vô Sanh”.

*Bài này có tải lên trên trang www.songdinh.com (cũ), ghi lại thể nghiệm riêng của tác giả. Đầu đề được gợi hứng từ đầu sách: Con Đường Mây Trắng (The Way of the White Clouds – Der weg der weissen wolken) của Lama Anagarika Govinda.

*Do sao chép; biên tập cho thích hợp, nên trong Mời Trà chỉ c̣n lại mấy câu và sai biệt mấy chữ, dấu so với nguyên tác. Thôi th́ cứ tự nhiên và tùy thuận vậy.

 (MQ).

 

Phụ Chú 2:

   Con Chữ

        Kính Tặng Thư pháp gia Songuyên

       Mai Quang

       I.Bút đưa con chữ

       đậu xuống mặt tờ

       Con chữ dắt díu

       nhau thành ư thơ.

    

 II.Trên nền con chữ

        phẳng lặng như tờ

        Trong ḷng con chữ

         trời đất giao mùa

       

III. Đằng trước con chữ

         nét cánh- sóng- Tâm

         Đằng sau con chữ

         vọng Hải-Triều-Âm

      

 IV. Tay đời thơ thới

        điểm xuống Phù-Vân

        Con chữ Tùy-Ư

        mặc –khí thơm Xuân.