Trn Hoài Thư

Và Thư Quán Bn Tho

Trn Yên Ḥa

 


Trần Hoài Thư là thày dạy học của tôi hồi c̣n trung học. Thày dạy môn Công Dân Giáo Dục lớp đệ tam nên cũng không ăn khách lắm. Môn này học tṛ thường cúp cua hay nếu ở lại học cũng chỉ nghe cho hết giờ. Đó là niên khoá đâu như 62-63 hay 63-64 ǵ đó. Những năm đó là những năm bắt đầu có cuộc tranh đấu của Phật giáo ở Huế chống lại sự đàn áp của chính quyền Ngô Đ́nh Diệm trong dịp Phật Đản.

Thầy tên là Trần Quư Sách, độ khoản 21, 22 tuổi, dáng cao lênh khênh, ăn mặc b́nh thường, đeo kính cận. Thày vào lớp tôi giữa tiếng cười của đám học tṛ con trai, con gái, phá như quỷ. Thầy giảng bài nhẹ nhàng, có câu nói lắp, cà lăm một chút xíu. Tôi không để ư nhiều v́ cũng như nhiều học tṛ lúc đó, học cho hết giờ, v́ môn công dân giáo dục cũng như những phụ khác như Nhạc, Vẻ hay Hán Văn, đều là những môn, “học mà chơi”


Đến khi cuộc tranh đấu ở Huế nổ lớn ra, ở Huế có tờ Lập Trường, do một số giáo sư Đại Học Huế chủ trương, trong đó chủ chốt là giáo sư Cao Huy Thuần, đă lôi kéo một số cây bút có tiếng tăm cộng tác. Thầy đọc tờ báo này và tôi cũng đọc báo này, nên hai thầy tṛ thân nhau. Ôi, hồi đó, chuyện văn nghệ, viết văn, làm thơ, sao mà quư, tôi biết thầy viết văn, làm thơ, nên tôi rất mê thầy, dù chưa được đọc ở thầy một bài nào cả.

Trong niên học đó, tôi là người học tṛ được thầy thương. Tôi đă kết thân với thầy, đă đến nơi thầy ở trọ, đă được nh́n căn pḥng bề bộn thầy ở với tùm lum sách báo, tranh vẽ và rác rưởi. Tôi nghĩ những người có tâm hồn văn nghệ, làm thơ, viết văn, thường sống trong những bộn bề như vậy.

Có một chủ nhật nào đó, thầy đă về nhà tôi. Nhà cha mẹ tôi ở là một vùng quê cách quận lỵ khoảng 8 cây số. Thày đă ở lại cùng tôi, đă ăn cơm trưa với món canh bông lư mà mẹ tôi đă nấu đăi thầy. Ngày ấy thật vui và vô tư biết bao nhiêu. Và cũng từ sau những ngày ấy, thầy đă bỏ trường mà đi. Từ đó, tôi không gặp thầy nữa nhưng tôi biết thày đă vào quân đội.


Sau này lớn lên, tôi vào Sài G̣n học đại học, rồi chiến tranh lan rộng, tôi cũng vào lính như thầy, cũng ra đơn vị tác chiến, cũng đọc sách, cũng làm thơ, viết văn, nhưng tôi chưa được gặp lại thầy một lần, mà chỉ đọc thày ở một số truyện ngắn, đăng răi rác ở đâu đó như là trên Văn, trên Ư Thức... Tôi theo dơi thày rất sát qua thơ văn thầy. Dù thầy đi cùng nơi, khắp xứ, ở đâu, nơi đâu, tôi cũng theo thầy vơi những truyện thầy đăng báo. Tôi biết thày đời lính cũng long đong hết cở. Bị cận thị nặng nhưng thầy vẫn đi tác chiến, làm trung đội trưởng trung đội thám kích, sư đoàn 22 bộ binh, đánh giặc cũng “ch́ một cây”, sau đó thầy bị thương, rồi đào ngũ, rồi ra lao công đào binh, rồi được phục chức về Quân Đoàn IV+QK4 với chức vụ phóng viên chiến trường


Sau 30 tháng tư bảy lăm, tôi đi tù, thầy cũng đi tù, thầy đi tù về, đi bán cà rem dạo cho trẻ em, rồi thày vượt biên và thoát. Tôi cũng đi tù nhưng sau khi về phải sống lây lất ở Việt Nam đến mười bốn năm, đến măi năm chín lăm, tôi mới được đi xuất cảnh theo diện HO.

Qua Mỹ, đọc những tạp chí văn học thấy tên thầy. Tôi mừng húm. Tôi hỏi Khánh Trường địa chỉ của thầy, tôi mới bắt được tin tức thày, liên lạc với thày qua Email. Thày viết thư cho tôi, viết về những ngày dạy ở Tam Kỳ, Quảng Tín, về những người nữ sinh xinh đẹp đă một thời làm xao động con tim của thầy (và cả tôi nữa):

Mấy mươi năm chưa một lần về thăm
Thị trấn ấy biết c̣n đàn sáo ngủ
Ngôi nhà trọ c̣n giàn hoa giấy đỏ
Gốc cây xưa c̣n đỏ một khoảng trời
Khi em một lần của tuổi rong chơi
Và tôi một lần,bạn cùng bảng phấn…

------------------------------ -----------

Nhớ ngày nào tôi đến nhà em
Mẹ em đăi thày nồi canh bông lư
Bông lư quê em ngập đầy gió núi
Như nắng vàng đầy ngập vườn sân
Như những ngày tôi có Trần Cao Vân

------------------------------ ----------

Tôi bỏ nậu đi bỏ lớp trường xưa
Bỏ quán cô Thuyền, bỏ nhà Nam Ngăi
Bỏ chiếc xe hàng qua đêm đậu lại
Cùng tiếng máy đèn rền rĩ thâu đêm
.


Thầy đă nhớ về và tôi cũng nhớ về những kỷ niệm xưa cũ đó, nhưng tôi chưa được gặp thầy một lần. Từ năm 1964 đến năm 2005, đúng là 41 năm.


Trong thời gian đó đến nay, Trần Hoài Thư đă in được những quyển sách sau:


Trước 75:

- Nỗi bơ vơ của bầy ngựa hoang (Ư Thức xuất bản)
- Những v́ sao vĩnh biệt (Ư Thức)
- Ngọn cỏ ngậm ngùi (Ư Thức)
- Một nơi nào để nhớ (Con Đuông)

Sau năm 1975 ở Mỹ:

- Ra biển gọi thầm (1995)
- Ban Mê Thuột, ngày đầu, ngày cuối.
- Thơ Trần Hoài Thư
- Ngày Vàng (thơ)
- Ô cửa (thơ)

Và c̣n nữa…ba bốn quyển ǵ đó, tôi không nhớ hết.

Trong bốn năm năm trở lại đây, Trần Hoài Thư chủ trương “Thư Quán Bản Thảo”, đây là một tập san không định kỳ, do Trần Hoài Thư, Phạm Văn Nhàn, Trần Bang Thạch, Cao Vỵ Khanh thực hiện, mục đích như nhà phê b́nh Đặng Tiến viết trong Thư Quán Bản Thảo số ra ngày 23-4-2006 (năm thứ năm) như sau:

“Hiện nay, sau khi tái bản thơ Nguyễn Bắc Sơn, Linh Phương, truyện ngắn Y Uyên, nhóm Thư quán của Trần Hoài Thư, Phạm Văn Nhan đă sưu tầm và in lại thơ Vũ Hữu Định để tặng biếu, không bán, trong tinh thần bảo lưu và truyền bá di sản văn học miền Nam. Chúng tôi đă có lần đề cao thiện chí này, nay một lần nữa, xin công nhiên ca ngợi một việc làm tâm huyết.”

Tại sao lại là Thư Quán Bản Thảo? tôi nghĩ, Trần Hoài Thư là kỹ sư điện toán, nên ông đă dùng computer để đánh máy, lay out và in ngay (có máy in nhỏ in mỗi lần vài ba chục cuốn đến một vài trăm cuốn, đóng b́a luôn và gởi tặng bạn bè. Khi có nhu cầu sẽ in thêm, nghĩa là sản xuất tại chỗ từ khâu đầu đến khâu cuối.)

Tôi rất phục công việc này của nhóm chủ trương Thư Quán Bản Thảo, mà đầu tàu là Trần Hoài Thư. Miệt mài trong năm năm, Thư Quán Bản Thảo đă cho tŕnh làng đều đặn những cuốn sách sau đây:


* Những tuyển tập đăng thơ, truyện của các tác giả cũ, trước bảy lăm:

Bùi Nghi Trang, Hạc Thành Hoa, Từ Thế Mộng, Nguyễn Bắc Sơn, Trần Hiền Ân, Cao Thoại Châu, Lữ Kiều, Lê Kư Thương. Truyện ngắn Y Uyên.

Trong ṿng 3 tháng đầu năm 2006, Thư Ấn Quán đă in được những tác phẩm:

- Thơ Vũ Hữu Định (tặng)
- Văn số 125 tháng 3 năm 1969, chủ đề Đầu Xuân Lộc Mới (in lại, tặng)
- Một ḿnh như cánh lá, thơ Hạc Thành Hoa (tặng)
- Quanh quẩn bên đời, tập truyện của Trần Bang Thạch.
- Hương Sắc Mong Manh (thơ Hoài Khanh, (tặng)

Tôi đọc hết những tập do Thư Ấn Quán in và xuất bản, gởi tặng tôi, tôi mới thấy công tŕnh của nhà văn Trần Hoài Thư thật đáng cảm phục và cả tấm ḷng đối với văn học miền Nam trước bảy lăm. Những bạn văn thuở ấy, bây giờ sống ở trong nước vất vưởng như những chiếc bóng. Không người nào ngất đầu lên nổi nếu không chấp nhận phục tùng chế độ. Một Trần Dzạ Lữ thuở nào với thơ ngợi ca màu tím Huế, cô gái Huế th́ bây giờ suốt ngày đứng dang nắng giữ xe đạp ở chợ Trần Hữu Trang, Phú Nhuận. Một Hà Nguyên Dũng bịnh lên bịnh xuống, không làm được ǵ ra tiền. Cả gia đ́nh chỉ c̣n mong chờ vào nồi xôi của người vợ, bán buổi sáng, ở trong hẻm một con đường nhỏ Ngă Tư Bảy Hiền. Một Đynh Trầm Ca gần ba mươi năm sống lang bạt ở Sài G̣n, cố t́m một mái ấm cho gia đ́nh mà không t́m được, cuối cùng anh phải “quy cố hương”, về lại Vĩnh Điện nới có ngôi nhà của người mẹ để lại:

Buộc phải lên tàu-hề quy cố hương
Riêng ta biết ước mơ người vẫn chảy

Có những điều mắt thường không dễ thấy

Cảm thông nhau như một nỗi buồn


Ba mươi năm đổi đời di dân

Nơi nào đến cũng đường cùng đất dữ

Nay về lại quê xưa chốn cũ

Bạc áo giang hồ –xếp nợ văn chương


Nguyễn Hữu Thụy (tặng Đynh Trầm Ca)

Cho nên Trần Hoài Thư, với tấm ḷng muốn t́m lại những người bạn cùng thời xưa, một thời đi lính, một thời viết văn, làm thơ, in lại những tác phẩm của họ rồi tặng không cho thân hữu, bạn bè hay độc giả yêu thích văn chương, đó là một tấm ḷng đáng trân quư biết là dường nào.

Gặp

Thế là đă bốn mươi mốt năm, thày tṛ tôi thất lạc nhau. Thất lạc đây có nghĩa là không được tay bắt mặt mừng, ôm choàng lấy nhau, nh́n mặt nhau, coi có phải là người ḿnh mong đợi bằng xương bằng thịt đây không? Bốn mươi mốt năm dài quá, một nửûa đời người chứ ít sao. Th́ hôm tháng bảy (hay tháng sáu, hay tháng tám, tôi quên đi) năm 2005, tin từ nhà thơ Đạm Thạch, “Trần Hoài Thư sẽ về Cali chơi, thăm anh em văn nghệ”. Rồi sau đó, tôi được tin từ email của Nguyễn Nam An thông báo sẽ gặp nhau ở cà phê Factory. (c̣n nhiều nữa, Tưởng Năng Tiến lên email nói sẽ dẫn đi nhậu không say không về, nhưng sau đó chẳng thấy đâu)
Hôm đó là thứ bảy, tôi đến sớm cùng Thành Tôn, Nguyễn Nam An, Đạm Thạch, sau đó có Nguyễn Lương Vỵ, Nguyễn Mạnh Trinh, Huỳnh Hữu Ủy, Hồ Thành Đức…Th́ Trần Hoài Thư đến cùng vợ. Bốn mươi mốt năm, thầy vẫn cao lênh khênh, tóc có bạc đi, mắt kiếng cận có dầy thêm, nhưng nh́n thầy tôi vẫn nghĩ đến người của bốn mươi mốt năm trước, vẫn nụ cười ấy, vẫn lối ăn mặc b́nh dân ấy, thầy không thay đổi ǵ trong ư tưởng của tôi. Khi tôi bắt tay thầy, tôi nói, em là Trần Yên Hoà, học tṛ thầy hồi ở trường Trần Cao Vân, Thầy ôm lấy tôi, tôi ôm lấy thầy, cảm động đến ứa nước mắt.

Ngày gặp gỡ đó tôi không bao giờ quên. Đến bây giờ, khi viết bài này, tôi vẫn cứ nghĩ đến một nhà văn Trần Hoài Thư đang lo in ấn những tác phẩm của bạn bè bằng lối in mới, tự in rồi đóng b́a luôn. Thầy vẫn nguyên một tấm ḷng trong sáng, cố gắng thực hiện để đem những tác phẩm của bạn bè viết văn, làm thơ, trước bảy lăm, đến cho độc giả hải ngoại.

Trần Yên Ḥa